Thứ bảy 31/01/2026 11:01

Một số nội dung chính của Luật Tương trợ tư pháp về hình sự

Theo dõi Pháp luật & Xã hội trên
Ngày 26/11/2025, Quốc hội ban hành Luật Tương trợ tư pháp về hình sự 2025. Luật này quy định nguyên tắc, thẩm quyền, trình tự, thủ tục thực hiện tương trợ tư pháp về hình sự giữa Việt Nam với nước ngoài; trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước Việt Nam trong tương trợ tư pháp về hình sự.
Một số nội dung chính của Luật Tương trợ tư pháp về hình sự
Ảnh minh họa

Hỏi: Tôi được biết, Quốc hội vừa ban hành Luật Tương trợ tư pháp về hình sự 2025. Xin quý báo cho biết một số nội dung?

(Trần Thế Hải, xã Đông Anh, Hà Nội)

Trả lời: Về câu hỏi của quý bạn đọc, xin trả lời như sau:

Ngày 26/11/2025, Quốc hội ban hành Luật Tương trợ tư pháp về hình sự 2025. Luật này quy định nguyên tắc, thẩm quyền, trình tự, thủ tục thực hiện tương trợ tư pháp về hình sự giữa Việt Nam với nước ngoài; trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước Việt Nam trong tương trợ tư pháp về hình sự. Theo đó, Điều 11 quy định về bảo đảm an toàn:

1. Khi yêu cầu một người có mặt trên lãnh thổ của nước yêu cầu để hỗ trợ điều tra, cung cấp chứng cứ thì nước yêu cầu phải cam kết bằng văn bản các nội dung sau đây:

a) Người đó sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự trên lãnh thổ của nước yêu cầu về hành vi đã thực hiện trước khi rời khỏi nước được yêu cầu;

b) Người đó sẽ không bị bắt giữ hoặc bị áp dụng bất kỳ biện pháp hạn chế tự do nào khác trên lãnh thổ của nước yêu cầu về hành vi đã thực hiện trước khi rời khỏi nước được yêu cầu, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 37 của Luật này;

c) Người đó không phải cung cấp chứng cứ hoặc hỗ trợ bất kỳ hoạt động điều tra hình sự nào ngoài phạm vi đã được nêu trong yêu cầu tương trợ tư pháp, nếu người đó không đồng ý.

2. Người không đồng ý sang nước yêu cầu để hỗ trợ điều tra, cung cấp chứng cứ thì không phải chịu bất kỳ hình phạt hoặc biện pháp cưỡng chế nào.

3. Người đồng ý sang nước yêu cầu để hỗ trợ điều tra, cung cấp chứng cứ thì không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về lời khai của họ, trừ việc họ khai báo gian dối.

4. Quyền không bị truy cứu trách nhiệm hình sự, bị bắt giữ, bị hạn chế tự do quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều này chấm dứt nếu người đó không rời khỏi nước yêu cầu sau thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được thông báo bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền của nước yêu cầu về việc không cần người đó có mặt tại lãnh thổ nước này. Thời hạn này không tính thời gian mà người đó không thể rời khỏi nước yêu cầu vì lý do bất khả kháng.

Điều 12. Bảo mật thông tin và giới hạn sử dụng

1. Thông tin, tài liệu, chứng cứ do cơ quan có thẩm quyền cung cấp chỉ được sử dụng phù hợp với mục đích đã nêu trong yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự, không được tiết lộ hoặc chuyển giao cho bên thứ ba. Trường hợp sử dụng thông tin, tài liệu, chứng cứ ngoài mục đích đã nêu trong yêu cầu thì phải có sự đồng ý trước bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền của nước kia.

2. Thông tin, tài liệu, chứng cứ do cơ quan có thẩm quyền của nước được yêu cầu cung cấp phải bảo đảm không bị sai lệch, thay đổi, tiết lộ trái phép. Theo đề nghị của nước yêu cầu hoặc trong trường hợp cần thiết, cơ quan có thẩm quyền của nước được yêu cầu quyết định việc áp dụng biện pháp phù hợp để bảo mật thông tin.

3. Trường hợp không thể thực hiện được yêu cầu về bảo mật thông tin thì cơ quan có thẩm quyền của nước được yêu cầu phải thông báo và nêu rõ lý do, trao đổi với cơ quan có thẩm quyền của nước yêu cầu về biện pháp thay thế (nếu có).

Điều 13. Giao nhận tài liệu, vật chứng, tài sản liên quan đến tương trợ tư pháp về hình sự

1. Việc giao nhận tài liệu, vật chứng, tài sản liên quan đến tương trợ tư pháp về hình sự giữa Viện kiểm sát Nhân dân tối cao với cơ quan lập yêu cầu hoặc cơ quan thực hiện yêu cầu ở Việt Nam được thực hiện theo quy định của pháp luật Việt Nam.

2. Việc giao nhận tài liệu, vật chứng, tài sản liên quan đến tương trợ tư pháp về hình sự giữa Viện kiểm sát Nhân dân tối cao với cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài do hai bên thỏa thuận, phù hợp với điều ước quốc tế mà hai nước là thành viên, pháp luật Việt Nam và pháp luật nước ngoài có liên quan.

Điều 14. Xem xét yêu cầu liên quan đến hình phạt tử hình

1. Trường hợp nước ngoài yêu cầu Việt Nam không áp dụng hình phạt tử hình hoặc không thi hành án tử hình để thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự, Viện kiểm sát Nhân dân tối cao chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan đưa ra một trong các thông báo sau đây:

a) Thông báo không áp dụng hình phạt tử hình hoặc không thi hành án tử hình đối với người có liên quan đến yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự nếu người đó thuộc trường hợp không áp dụng hình phạt tử hình hoặc không thi hành án tử hình theo quy định của Bộ luật Hình sự;

b) Thông báo không thi hành án tử hình đối với người có liên quan đến yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự không thuộc trường hợp được quy định tại điểm a khoản 1 Điều này sau khi có ý kiến của Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

2. Trường hợp Việt Nam yêu cầu nước ngoài không áp dụng hình phạt tử hình hoặc không thi hành án tử hình để thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự, Viện kiểm sát Nhân dân tối cao đề nghị nước ngoài đưa ra cam kết bằng văn bản về nội dung này.

3. Viện trưởng Viện kiểm sát Nhân dân tối cao chủ trì, phối hợp với Chánh án Tòa án Nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Tư pháp và Bộ trưởng Bộ Ngoại giao quy định chi tiết Điều này...

Thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm quyết định dẫn độ
4 nhóm tuổi bắt buộc phải đổi thẻ căn cước trong năm 2026
Thẩm quyền yêu cầu tương trợ tư pháp về dân sự của Việt Nam từ ngày 1/7/2026
LS. Nguyễn Trung Tiệp, Đoàn Luật sư TP Hà Nội
Pháp luật và Xã hội

Mở Zalo, bấm quét QR để quét và xem trên điện thoại

Có thể bạn quan tâm

Tin đã đăng
Xem thêm»

Mời bạn quét mã QR để theo dõi Pháp luật và Xã hội trên nền tảng Zalo

Mời bạn quét mã QR để theo dõi phapluatxahoi.kinhtedothi.vn
X
Phiên bản di động